Ở nơi nào của miền Bắc cũng có ,canh cá rô ,bún cá rô nhưng ngon nhất là ở Hải Dương. Có thể do thổ nhưỡng của nơi đây mà thịt cá luôn thơm, chắc, nước dùng đậm đà.
Nước dùng của món bún tại quán được nấu hoàn toàn bằng cá, không dùng bột ngọt nên chỉ có vị ngon và mùi thơm của cá. Dùng kèm tô bún là rổ rau xanh mướt với đủ loại, đặc biệt không thể thiếu lá đinh lăng cay nồng đề giả giảm vị tanh, độ hàn của cá.
Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011
Món Thịt xông khói Vùng Cao
Thịt xông khói là món ăn phổ biến của người dân tộc thiểu số sống ở các vùng rừng núi khu vực miền Trung và Tây bắc. Nếu ai được một lần có dịp thưởng thức món ăn này sẽ không thể nào quên cái hương vị thơm ngon là lạ của từng miếng thịt.
Thịt xông khói mới trông qua tưởng cách làm dễ dàng như cái tên gọi ấy vậy mà lắm nhiêu khê. Để làm món thịt này người ta thường lấy thịt bắp hoặc thịt vai của những con trâu, bò, lợn. Khi làm, người ta lóc các thớ thịt mới được giết mổ ra bỏ hết mỡ, gân rồi cắt thành từng miếng dài. Đặc biệt khi làm thịt không được rửa sạch bằng nước lạnh để khỏi bị ôi thối mà dùng khăn sạch thấm khô máu. Ướp thịt với rượu và muối, các gia vị khác như ớt, gừng, tiêu rừng,...rồi cho vào bình hoặc lọ đậy nắp kín ngâm khoảng 1 tuần lễ.
Sau đó xâu thịt lại bằng dây rừng treo lủng lẳng trên dàn bếp, nơi luôn có bếp lửa đỏ hồng và hằng ngày hơi nóng của khói âm ỉ từ bếp củi làm cho thịt rút nước khô lại, mỡ cũng tiết ra bớt, miếng thịt sẽ dần săn lại và khói than tạo thành một lớp bì bọc ngoài bảo vệ vững chắc khiến cho vi khuẩn khó thâm nhập và làm hỏng phần bên trong của thịt. Vì thế khi ăn hương vị của miếng thịt luôn giữ được mùi thơm, ăn dai dai và ngọt đượm. Món này có thể ăn được sau khi treo được một tuần, nhưng muốn ngon hơn phải để thật lâu.
Thơm ngon thịt xông khói sau khi chế biến.
Thịt xông khói không phải ăn liền ngay mà phải qua chế biến mới ngon. Khi nào muốn ăn người dân đem miếng thịt xuống rửa hoặc cạo sạch lớp tro than bên ngoài rồi sau đó thái lát mỏng để xào nấu. Từ miếng thịt này có thể chế biến ra nhiều món: luộc, rán, xào,...Khi ăn có vị ngọt lại vừa dai vừa dòn ăn chẳng thấy ngán.
Thật ra đây thịt xông khói của đồng bào dân tộc được chế biến ra nhằm làm nguồn thực phẩm để dành lúc bị khan hiếm thức ăn hay khi nhà có khách quý đến để đãi món ăn truyền thống.
Bây giờ thịt xông khói vùng cao trở thành đặc sản không dễ gì tìm được và nhiều người dân ở vùng đồng bằng đã bắt chước làm món này để bán cho những nhà hàng, quán nhậu. Dẫu không thể ngon bằng thịt xông khói ở vùng cao nhưng dẫu sao khi ăn cũng có chút hương vị là lạ so với thịt chế biến theo cách thông thường ăn hằng ngày.
Hà Nội - Apachải Di tích nhà tù Sơn La
Xuất phát từ Đại học Khoa học Tự nhiên lúc 5h sáng ngày 29.04.2009 dưới cơn mưa tầm tã, cả đoàn 6 người - 3 xe cứ lầm lũi lầm lũi tiến đi. Lúc mưa quất rát mặt, lúc thì lao xe trong khối sương mù dày đặc mà không nhìn thấy nhau. Tuy nhiên đến Mộc Châu - Sơn La thì trời bắt đầu đổ nắng.
Trong chuyến Phượt thứ 2 của năm, chúng tôi mới có dịp thăm nhà tù Sơn La, một di tích cách mạng đã học từ khi còn ngồi trên ghế trường phổ thông. Năm 1962 nhà tù Sơn La được Bộ Văn hoá thông tin xếp hạng là một trong nhiều di tích cách mạng của cả nước.
Khác với hình dung của chúng tôi, con đường đất xưa kia dẫn đến ngọn đồi Khau Cả, thị xã Sơn La nơi có Bảo tàng và nhà tù Sơn La đã được trải nhựa. Nay trên ngọn đồi này, di tích nhà tù Sơn La không còn đơn độc mà quanh đó có một loạt cơ quan đầu não của tỉnh: Đài Truyền hình, Ủy ban Nhân dân, Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư… Mặc dù nhà tù nay đã bị phá bỏ nhưng những gì còn lại cũng đủ để người xem hình dung được cuộc sống tù đầy tàn khốc đã diễn ra nơi này.
Nhằm đầy ải, giam cầm và cô lập các tù nhân chính trị yêu nước của Việt Nam, năm 1908 thực dân Pháp đã xây dựng nhà tù Sơn La. Lúc đầu chỉ là một nhà tù nhỏ, sau nâng dần lên nhà tù hàng tỉnh với số lượng tù nhân tăng dần. Từ năm 1930 - 1945, tại đây, thực dân Pháp đã giam cầm hơn 1000 chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước, trong đó có nhiều người là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam như Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Xuân Thuỷ, Trần Huy Liệu…
Khác với hình dung của chúng tôi, con đường đất xưa kia dẫn đến ngọn đồi Khau Cả, thị xã Sơn La nơi có Bảo tàng và nhà tù Sơn La đã được trải nhựa. Nay trên ngọn đồi này, di tích nhà tù Sơn La không còn đơn độc mà quanh đó có một loạt cơ quan đầu não của tỉnh: Đài Truyền hình, Ủy ban Nhân dân, Sở Nội vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư… Mặc dù nhà tù nay đã bị phá bỏ nhưng những gì còn lại cũng đủ để người xem hình dung được cuộc sống tù đầy tàn khốc đã diễn ra nơi này.
Nhằm đầy ải, giam cầm và cô lập các tù nhân chính trị yêu nước của Việt Nam, năm 1908 thực dân Pháp đã xây dựng nhà tù Sơn La. Lúc đầu chỉ là một nhà tù nhỏ, sau nâng dần lên nhà tù hàng tỉnh với số lượng tù nhân tăng dần. Từ năm 1930 - 1945, tại đây, thực dân Pháp đã giam cầm hơn 1000 chiến sĩ cách mạng và những người yêu nước, trong đó có nhiều người là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam như Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Xuân Thuỷ, Trần Huy Liệu…
Nay, dấu tích của các xà lim ngầm, xà lim chéo, trại hai gian, trại ba gian cùng những phòng giam đặc biệt chỉ rộng hơn 1m2 (nay chỉ còn lại nền móng) nơi từng giam hãm các lãnh tụ cách mạng của đất nước ngày xưa… giúp người xem phần nào hình dung ra cuộc sống khổ cực của tù nhân và thêm khâm phục ý chí kiên cường của họ trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù dân tộc. Nơi đây cũng trưng bày hàng trăm hiện vật, những công cụ tra tấn - những chứng tích sống về tội ác dã man của kẻ thù như những còng tay, xích sắt còng tù nhân, bàn kẹp sắc nhọn, những chiếc bát sứt mẻ dùng cho tù nhân ăn uống hàng ngày…
Cũng trong gian nhà trưng bày những kỷ vật còn lại của các chiến sĩ tù Sơn La (trước đây là nhà giam lớn), người xem còn được thấy những bức tượng mô tả các tù nhân bị thực dân Pháp giam cầm, hành hạ chỉ còn da bọc xương nhưng những người cộng sản trung kiên ấy vẫn kiên cường vượt qua mọi sự tra tấn dã man trung thành với Tổ quốc với nhân dân. Trong ngục tù, mặc dù bị hành hạ, cô lập với bên ngoài nhưng họ vẫn tìm cách liên lạc với nhau, đoàn kết, tổ chức các lớp học, giúp nhau củng cố tinh thần và giữ vững ý chí.
Thăm di tích nhà tù Sơn La, người xem còn được nghe kể về Tô Hiệu một lãnh tụ tù kiên cường và bất khuất của cách mạng Việt Nam. Ông bị đày lên Sơn La năm 1940. Được giao nhiệm vụ Bí thư chi bộ Đảng nhà tù Sơn La, ông đã lãnh đạo anh em tù tuyệt thực, kiên trì đấu tranh đòi cải thiện chế độ nhà tù. Tại đây ông cùng với một số anh em mở lớp học chính trị, văn hoá, dạy cho các bạn tù vào ban đêm. Ông bị giam vào ngục tối, bị tra tấn dã man nhưng điều đó không thể ngăn được lòng yêu nước và ý chí bất khuất của ông. Tô Hiệu mất đi nhưng tấm gương về lòng yêu nước, sự dũng cảm của ông vẫn còn mãi soi rọi cho các thế hệ sau.
Trái ngược với những gì khô cằn nơi đây, một cây đào quanh năm xanh tốt mọc ở một phía nhà tù để lại nhiều ấn tượng cho du khách tham quan. Cây đào mang tên người chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu như một biểu tượng bất diệt, tượng trưng cho ý chí quật cường và lòng dũng cảm vô song của các chiến sĩ tù cộng sản Sơn La.
Trái ngược với những gì khô cằn nơi đây, một cây đào quanh năm xanh tốt mọc ở một phía nhà tù để lại nhiều ấn tượng cho du khách tham quan. Cây đào mang tên người chiến sĩ cách mạng Tô Hiệu như một biểu tượng bất diệt, tượng trưng cho ý chí quật cường và lòng dũng cảm vô song của các chiến sĩ tù cộng sản Sơn La.
Bản Cát Cát Sapa
Bản Cát Cát - một bản làng của người dân tộc H’mong. Nơi đây có khá nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh và dệt vải. Tuy nhiên đường xuống Cát Cát khá khó khăn vì địa hình đồi núi không tiện sử dụng xe cộ. Thế là tôi cuốc bộ gần 2 cây số để xuống đến bản làng này, tuy nhiên đây lại chính là cơ hội để có thể tận hưởng hết cảnh đẹp của núi rừng.
Ở Cát Cát còn giữ được khá nhiều phong tục và tập quán độc đáo, đậm nét mà ở nhiều vùng khác không có, hoặc không còn tồn tại nguyên gốc. Chẳng hạn như tục "kéo vợ". Khi người con trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bè và nhờ các bạn lập kế hoạch "kéo" cô gái mà anh ta muốn cưới làm vợ về nhà một cách bất ngờ và giữ cô gái trong nhà ba ngày. Sau ba ngày, nếu cô gái đồng ý làm vợ chàng trai thì sẽ tiến hành lễ cưới chính thức. Nếu cô gái từ chối thì họ cùng nhau uống bát rượu kết bạn và mọi việc trở lại bình thường như chưa có điều gì xảy ra. Lễ cưới người H’mong ở Cát Cát thường được tổ chức từ 2 đến 7 ngày.
Vào thăm một ngôi nhà của người dân tộc. Gia đình đang cặm cụi may vá...
Kho lương thực
Những bắp ngô vàng rực trên trần nhà
Kiến trúc nhà cửa người H’mong làng Cát Cát còn nhiều nét cổ: nhà ba gian lợp ván gỗ pơ mu. Bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang. Các cột nhà đều được kê trên phiến đá tròn hoặc vuông. Vách được lợp bằng gỗ xẻ, có 3 cửa ra vào: cửa chính ở gian giữa, 2 cửa phụ ở hai đầu nhà. Cửa chính luôn được đóng kín, chỉ mở khi có việc lớn như đám cưới, tang ma, cúng ma vào dịp lễ tết. Trong nhà có không gian thờ, sàn gác lương thực dự trữ, nơi ngủ, bếp và nơi tiếp khách.
Làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Ngoài nơi ở còn có nơi sản xuất: họ trồng lúa trên ruộng bậc thang, trồng ngô trên núi theo phương pháp canh tác thủ công, sản lượng thấp. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng...
Tôi bước vào tham quan một ngôi nhà gọi là nhà trình tường – đặc trưng của Cát Cát, nhà cũng có "lồng đèn đỏ treo cao"?
Cầu thang bằng gỗ
Lồng đèn trên trần
Rồi lồng đèn trên giá
Gian thờ và cối xay
Đặc sản nấm linh chi
Sapa tập trung chủ yếu người H’mong đen, gọi là H'mong đen vì họ bận trang phục màu đen. Chúng tôi được cảnh báo là không nên cho tiền trẻ con, lũ trẻ ở đây đi theo khách du lịch và chỉ nói một câu "cho cháu xin 1 nghìn", nhưng nếu bạn cho thì tất cả trẻ con trong bản sẽ đến vây quanh khiến bạn chẳng còn đường để về nữa. Thêm một tập tục khác đó là không xoa đầu trẻ con vì người dân tộc ở đây quan niệm hồn của trẻ ở trên đầu, nếu xoa sẽ làm chúng sợ. Và nếu trên đường đi thăm bản, bạn không nên bước vào nhà nào có cắm cành cây trước cửa, vì ắt hẳn nhà đó đang có tang gia hoặc có chuyện buồn.
Tôi dạo bước tận hưởng cái không khí yên bình nơi đây, quả đúng là địa điểm thích hợp cho những ai muốn tìm về lối “sống chậm"...
Nhãn:
an dan toc,
Bản Cát Cát Sapa,
dong bao,
homestay
Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011
Độc Đáo Lễ Hội Pháo Đất Ninh Giang Hải Dương
Độc Đáo Lễ Hội Pháo Đất Ninh Giang Hải Dương
Pháo đất là trò chơi dân gian có từ lâu đời. Tương truyền, các đội quân của nước ta đã gieo pháo đất đồng loạt, tạo nên những tiếng nổ rền vang để uy hiếp quân Tàu xâm lược Pháo đất là trò chơi có ở vùng đồng bằng sông Hồng. Tại Hải Dương, trò chơi pháo đất có ở hai huyện: Ninh Giang các xã Ứng Hòe ,Nghĩa An …và Quang Khải …Tứ Kỳ,
Các hội thi pháo có mối quan hệ mật thiết với mùa màng. Những năm cây lúa tươi tốt, hứa hẹn một vụ mùa bội thu thì các cuộc thi pháo tổ chức nhiều hơn những năm mùa màng kém. Các trận đấu pháo thường được tổ chức ở những nơi sinh hoạt văn hóa công cộng như: nhà văn hóa thôn, sân đình.
Vào thời điểm tháng 4 – 5 khi những người nông dân nông nhàn thường tụ tập tổ chức các hội pháo đất.
Từ quả đất ban đầu đến khi gieo pháo là một quá trình làm rất công phu, pháo thủ dùng các bộ phận của bàn tay và bàn chân để dận, đấm, lèn chặt quả đất. Quả pháo phải có hình bầu dục, mõm pháo nhỏ hơn gáy pháo, phần giữa dày hơn hai bên. Pháo thủ dùng khăn vải thấm nước, rồi vắt khô để lau mép pháo. Dùng hai tay bấm manh pháo cho đều, gọi là lên manh. Manh bấm xong, pháo thủ dùng dao (hoặc một thanh tre nhọn) khía sâu vào rãnh của manh cho đứt hẳn. Sau đó, tiếp tục bấm một lần đất phủ kín chỗ đã khía để làm liền manh.
Ở phần mõm pháo, pháo thủ rạch một đường dài khoảng 5cm, gọi là ngắt manh, nơi để manh pháo bung ra. Ngắt manh xong, người làm pháo chỉnh cho pháo cân đối lần cuối, rồi chuẩn bị gieo pháo. Do quả pháo có trọng lượng 60-80kg nên cần vài người cùng nâng pháo giúp pháo thủ. Khi chuẩn bị gieo, chỉ có một pháo thủ đỡ pháo. Chân pháo thủ đứng vuông với hai vai, khuỷu tay tỳ vào bụng, hai bàn tay xòe ra đỡ lấy bụng pháo và giữ pháo cân bằng. Khi gieo, pháo thủ nín thở rồi thả pháo vào bàn.
Đất để đánh pháo ở xã Nghĩa An Ninh Giang là tốt nhất tỉnh Hải Dương. Các xã khác thường đến đây mua đất làm pháo. “Chúng tôi lấy đất ở khu Chiều Cửa, thôn Đa Nghi. Từ mặt ruộng, đào sâu xuống 2m mới đến tầng đất làm pháo. Tầng đất này chỉ dày 30cm, miếng đất không lẫn cát, sỏi và tạp chất khác. Sau khi lấy về, pháo thủ dùng dao, liềm thái đất thành từng miếng nhỏ, vụn, rồi tiếp tục lấy búa tạ đập, giã thật nhuyễn. Đất được trộn, thấu nhiều lần, sau đó sẽ đánh thành từng quả đất. Thông thường, pháo thi đấu có trọng lượng 60-80kg/quả”.
Trong các cuộc đấu, các pháo thủ được chọn kỹ lưỡng qua những cuộc thi trước đó. Trước mỗi trận đấu, pháo thủ phải luyện tập trước nhiều tuần. Mỗi trận đấu có số lượng các sòng thi đấu và số pháo khác nhau. Thông thường, mỗi trận đấu có 4 sòng và mỗi sòng có 20 lần gieo pháo. Trong một sòng, mỗi pháo thủ chỉ được gieo 1 pháo. Đội thắng ở một sòng thi đấu phải có tổng số thước các pháo cộng lại lớn hơn đội khác từ 2 thước pháo trở lên (một thước pháo bằng 40cm). Pháo được đo là manh pháo phải bung ra lớn hơn 2 thước và không bị tan. Trọng tài sẽ dùng thước đo hai mép của manh pháo để tính độ dài pháo ra. Đội chiến thắng trong một trận đấu có số thước pháo lớn nhất và hơn đối thủ 2 thước trở lên.
Sau mỗi cuộc đấu pháo, các pháo thủ tổ chức họp rút kinh nghiệm và liên hoan. Cả pháo thủ và khán giả cùng vui bên mâm cơm sau mỗi trận đấu. Pháo đất mang lại tiếng cười sảng khoái, sự đoàn kết cộng đồng, niềm tự hào với truyền thống quê hương. Nhiều người dù khản giọng, mất tiếng sau mỗi trận đấu vì cổ vũ nhiệt tình, nhưng ai cũng vui vẻ, yêu đời.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)












